TIỀN GIANG - VĨNH LONG - CẦN THƠ, Trang 144 - TIỀN GIANG - VĨNH LONG - CẦN THƠ. Bạn đã gửi bài trong chủ đề này.
Tràng Giang - Một âm hưởng của thời đại. Ra đời trong phong trào thơ mới, Tràng Giang là một trong những bài thơ tiêu biểu đặc sắc nhất. Đặc điểm chính của Thơ Mới là cái mới, lạ, chất phương Đông kết hợp với phương Tây, hòa quyện làm nên một phong trào thơ ca
Đôi nét về tác phẩm Tràng Giang (Huy Cận) 1. Hoàn cảnh sáng tác. - Bài thơ được viết vào mùa thu năm 1939. - Cảm hứng sáng tác được khơi gợi từ hình ảnh sông Hồng mênh mông sóng nước, bốn bề bao la, vắng lặng. 2. Bố cục. - Phần 1 (khổ 1): cảnh sông nước và tâm
Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Tràng giang - Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Tràng giang do cungdaythang.com tổng hợp và biên soạn gồm những nội dung hướng dẫn cụ thể phân tích đề, lập dàn ý và những bài văn mẫu hay dành cho các em tham khảo mở rộng vốn từ.
Bởi vậy, khi bình giảng, ngoài việc hiểu, còn đòi hỏi phải tỏ ra tinh tế. Cần nắm một số điểm sau: 1. Tiêu đề bài thơ. Bài thơ có tên Tràng giang, một từ Hán Việt. Đây cũng là điểm lạ đối với một nhà thơ mới. Nhiều bài thơ trong tập Lửa thiêng, Huy Cận đặt
. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG ĐỀ CHÍNH THỨC Đề thi… Đọc tiếp SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH THANH HÓA NĂM HỌC 2018-… Đọc tiếp SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH ĐỀ THI CHÍNH THỨC … Đọc tiếp Chuyên đề 2 DẠY HỌC TÍCH HỢP THEO CHỦ ĐỀ… Đọc tiếp SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ Số báo danh ……………………. ……………………… ĐỀ CHÍNH THỨC KỲ THI… Đọc tiếp Đề thi có 02 trang ĐỀ THAM KHẢO NĂM HỌC 2017-2018 MÔN NGỮ VĂN LỚP 12 Thời gian… Đọc tiếp KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2018 Môn thi Ngữ văn Thời gian làm bài 120 phút,… Đọc tiếp SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO … ĐỀ CHÍNH THỨC ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI NĂM HỌC 2017 –… Đọc tiếp Đề bài Hình ảnh buổi chiều và cảm xúc của chủ thể trữ tình trong bài Mộ của Hồ Chí… Đọc tiếp Ôn tập bài Tràng Giang Huy Cận TÁC GIẢ HUY CẬN Huy Cận 1919 – 2005 tên khai sinh là… Đọc tiếp TRÀNG GIANG – Huy Cận – ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ BÀI TRÀNG GIANG Giới thiệu tác… Đọc tiếp Soạn giáo án Ngữ văn 11 theo chủ đề dạy học, soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ, Tràng Giang, Vội… Đọc tiếp Tuyển tập những kết bài mẫu tham bài về các tác phẩm lớp 11 Hai đứa trẻ, Chữ… Đọc tiếp Đề thi hay và khó về những bài thơ mới lớp 11. Phân tích những bài thơ mới ngữ văn… Đọc tiếp Giáo án Ngữ Văn 11 theo chủ đề chủ đề thơ mới Việt Nam . Giáo án theo định… Đọc tiếp Tài liệu Ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề thơ Việt Nam hiện đại. Soạn… Đọc tiếp Huy Cận tự bạch với Tràng giang Ta ở đất này, sống cõi này Đất làm ra gió để chim… Đọc tiếp Tài liệu tham khảo dành cho học sinh giỏi, các em có thể tham khảo bài viết sau nhé .… Đọc tiếp Hướng dẫn ôn tập bài Tràng Giang- Huy Cận Phần 1 Kiến thức cơ bản 1 . Vài nét về… Đọc tiếp Ôn tập bài Tràng Giang- Huy Cận. Những dạng đề thi về bài Tràng Giang Dạng 1 Cảm nhận/… Đọc tiếp
Tổng hợp các đề văn về bài thơ Tràng giang cùng các câu hỏi về bài Tràng giang được tổng hợp đầy đủ, chi tiết cho các em học sinh lớp 11, 12 ôn luyện về tác phẩm nàyTổng hợp các đề văn về bài thơ Tràng giang cùng các câu hỏi về bài Tràng giang được Đọc tài liệu tổng hợp dưới đây, nhằm giúp các em học sinh hiểu thêm về bài thơ Tràng giang của Huy Cận. Thêm vào đó là việc giúp các em học sinh như tiếp cận được nhiều dạng câu hỏi, đề bài liên quan đến tác phẩm này hơn để không bỡ ngỡ trước các câu hỏi của đề kiểm tra, đề thi Văn lớp 11 và đề thi môn Văn Các câu hỏi về bài Tràng giangNgoài những câu hỏi bài xoay quanh Tràng giang qua phần soạn bài Tràng giang - Huy Cận trong SGK Ngữ văn lớp 11, các em học sinh còn có thể mở rộng thêm kiến thức với những câu hỏi được Đọc tài liệu tổng hợp dưới đây nhằm phục vụ cho các em làm các đề văn về bài Tràng giang được đầy đủ và đạt điểm cao trong các bài thi, kiểm tra quan 1. Nhận xét nhan đề bài thơ?- Tràng giang gợi lên hình ảnh con sông vừa dài vừa rộng. - Tràng giang khơi gợi nỗi buồn mênh mang. - Cách điệp vần ang tạo nên âm hưởng vang xa, trầm 2. Câu thơ đề từ " Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" chuyển tải nội dung gì?- Diễn tả cảm xúc luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn. - Thể hiện tư tưởng cơ bản của bài thơ nỗi buồn trước vũ trụ bao 3. Nhận xét cách sử dụng từ láy?- Mật độ từ láy xuất hiện cao 10 lần trong 16 dòng thơ, có dòng sử dụng hai từ láy Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu. - Các từ láy mang lại cảm giác êm dịu, gợi hình, gợi cảm cho bài thơ. Đặc biệt góp phần hữu hiệu trong việc thể hiện sự quạnh vắng, nỗi cô đơn, buồn da diết của thi nhân trước đất trời hiu hiu, dợn dợn, đìu hiu,...Câu 4. Sự sáng tạo của Huy Cận qua hai câu cuối?- Hai câu này là sự sáng tạo tuyệt vời của Huy Cận dựa trên hai câu thơ của Thôi Hiệu Quê hương khuất bóng hoàng hôn- Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?. Nhưng ở đây, Huy Cận không cần " khói sóng" để gợi nhớ mà vẫn da diết, cháy bỏng nỗi nhớ nhà vì nỗi nhớ ấy luôn thường trực hiện hữu trong lòng ông. - Thi liệu của thơ Đường được vận dụng một cách mới mẻ => tinh thần của thơ 5. Nêu hoàn cảnh ra đời, cảm hứng chủ đạo và câu tử bài thơ Tràng giang Huy Cận- Hoàn cảnh ra đời của bài thơTràng giang là bài thơ được sông Hồng gợi tứ. “Một buổi chiều mùa thu năm 1939, khi đứng ở bờ nam bến Chèm nhìn ngắm cảnh sông Hông mênh mông sóng nước, bốn bề bao la vắng lặng, nghĩ về kiếp người trôi nổi tứ thơ Tràng giang đã được hình thành” Huy Cận. Bài thơ được in trong tập Lửa Cảm hứng chủ đạo của bài thơĐứng trước không gian mênh mông của đất trời, trong sâu thẳm lòng người trào dâng nỗi bâng khuâng trước cảnh sông dài trời rộng. Cảm hứng chủ đạo này được nhà thơ thâu tóm trong nhan đề “Tràng giang” và câu đề tù “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài- Cấu tứ của bài thơToàn bộ bài Tràng giang là một nỗi buồn. Bài thơ gồm bốn khố thơ giống như bôn bài tứ tuyệt Đường thi, mỗi khổ thơ là một sự triển khai cửa nồi buồn đó. Mặc dù trong mỗi khổ thơ, cảnh vật và tâm trạng con người được thể hiện khác nhau ở mức độ nào đó nhưng đều có điếm chung hệ thống trong một chỉnh thể là cảnh sóng nước mênh mang bao la và con người với cái tôi nhỏ bé, mang tâm trạng cô đơn, buồn 6. Anh/chị hiếu thế nào về câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Tràng giang – Huy Cận? Đề từ đó có mối liên hệ gì với bực tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ?“Trời rộng”, “sông dài” mang nghĩa khái quát về không gian nghệ thuật của bài thơ. Đó là một khung cảnh sông nước mênh mông, vô biên. “Bâng khuâng”, “nhớ” khái quát lên tâm trạng buồn, cô đơn giữa “trời rộng”, “sông dài”. Mối liên hệ của câu đề từ với bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ + Câu đề từ như thâu tóm hết nội dung tư tưởng của cả bài thơ. Đối diện với cái mênh mông của không gian và cái vô tận của thòi gian, nhân vật trữ tình cảm nhận một cách thâm thía nỗi cô đơn, nhỏ nhoi của chính mình, thấy mình trớ nên bơ vơ lạc lõng giữa dòng đời vô tận. Càng phát hiện sự mênh mông của cảnh vật, con ngươi ở đây càng lạc lõng. Đó là nỗi niềm của cái tôi nhà thơ.+ Lời đề từ vừa tô đậm thêm cảm giác “tràng giang” vừa thâu tóm cảm xúc chủ đạo vừa gợi ra nét nhạc chủ âm cho cả bài Các đề văn về bài thơ Tràng giang - Huy CậnCác đề văn về bài thơ Tràng giang của Huy Cận được Đọc tài liệu tổng hợp và hướng dẫn các em học sinh cách lập dàn ý, cách viết bài với nhiều bài văn mẫu tham khảo cho mỗi đề bài. Các em có thể tìm hiểu chi tiết cho từng đề bài dưới 1 Nỗi buồn trong khổ đầu bài thơ Tràng Giang - Huy CậnĐề 2 Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy CậnĐề 3 Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giangĐề 4 Bức tranh thiên nhiên và bức tranh tâm trạng trong bài thơ Tràng giangĐề 5 Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giangĐề 6 Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ tràng giangĐề 7 Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng giang - Huy CậnĐề 8 Phân tích khổ thơ đầu bài Tràng giang - Huy CậnĐề 9 Phân tích khổ thơ thứ hai bài Tràng giang - Huy CậnĐề 10 Phân tích khổ thơ thứ ba trong bài Tràng giangĐề 11 Phân tích khổ thơ cuối bài Tràng giang - Huy CậnĐề 12 Phân tích hai khổ thơ đầu bài Tràng giang - Huy CậnĐề 13 Cảm nhận vẻ đẹp trong khổ thơ cuối bài Tràng giang - Huy CậnLiên hệ, mở rộngĐề 14 So sánh cái tôi trong bài thơ Vội vàng và bài thơ Tràng giangVới các đề văn về bài thơ Tràng giang cùng các câu hỏi về bài Tràng Giang - Huy Cận ở trên, Đọc tài liệu đã tổng hợp đầy đủ những nội dung chính xoay quanh tác phẩm, các em học sinh có thể từ đó liên hệ vào với đề bài cụ thể của mình để triển khai thành những bài văn chi tiết.
Cảnh vật trong khổ thơ thứ hai trở nên hoang vắng, quạnh quẽ. Mọi vật trở nên tiêu sơ, trơ trọi đìu hiu. Mọi thứ như sắp khép lại của một buổi chợ chiều vãn chợ chiều. Trong cái không gian ba chiều {lên, xuống, sâu, khiến thân phận bé nhỏ của con người như lọt vào cõi đời hun hút sâu chót vót. Cảnh trong khổ thơ 3 lại càng hoang vắng, thiếu bóng dáng con người nên bến sông không một chuyến đò ngang thân phận kiếp người trôi dạt không biết về đâu như những cánh bèo hàng nối hàng về nơi vô định. Bài thơ Tràng giang được trích trong tập Lửa thiêng 1940.Chủ đề Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trời rộng sông dài. Đồng thời, cảm giác về cái bé nhỏ, bơ bơ hữu hạn của kiếp người. Thể loại Thất ngôn trường thiên bài thơ đậm phong vị Đường thi. Bố cục 3 phần,Khổ 1 Cảnh vật trên dòng sông và sự trầm tư, suy tưởng của tác giả. Hình ảnh con thuyền và cành củi khô trong cái dòng nước mênh mang đã khiến nhà thơ liên tưởng đến kiếp người nhỏ nhoi, nổi trôi, lạc loài, cô độc trong dòng đời. Hình ảnh thuyền về nước lại, sầu trăm ngả gợi sự chia ly. Trong mạch cảm xúc chủ đạo này, thuyền và nước trong thơ ca và cả trong đời thực làm sao mà xa cách cho được. Thế mà bây giờ lại hờ hững với nhau. Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả. nước lại sầu sông đã buồn và bây giờ cả dòng nước cũng sầu... Từ Hán Việt Tràng giang như báo hiệu cho tứ thơ cổ điển, mang phong vị Đường thi. Trung tâm của khổ thơ này là Củi một cành khô lạc mấy dòng. Từ dạt được sử dụng rất đắt. Bởi dạt cho ta thấy nét thân phận bị đẩy đưa ngoài ý muốn, nên nỗi buồn của nhà thơ là nỗi buồn điệp điệp", chồng 2 và 3 Sự hoang vẳng của cảnh vật và tâm trạng của nhà thơ. Cảnh vật trong khổ thơ thứ hai trở nên hoang vắng, quạnh quẽ. Mọi vật trở nên tiêu sơ, trơ trọi đìu hiu. Mọi thứ như sắp khép lại của một buổi chợ chiều vãn chợ chiều. Trong cái không gian ba chiều {lên, xuống, sâu, khiến thân phận bé nhỏ của con người như lọt vào cõi đời hun hút sâu chót vót. Cảnh trong khổ thơ 3 lại càng hoang vắng, thiếu bóng dáng con người nên bến sông không một chuyến đò ngang thân phận kiếp người trôi dạt không biết về đâu như những cánh bèo hàng nối hàng về nơi vô định. Khổ 4 Nét đẹp kì vĩ của thiên nhiên vũ trụ và tâm trạng của nhà thơ. Nếu xưa kia, Thôi Hiệu nhớ quê, trong một buổi chiều vì duyên cớ khói sóng trên sông gợi nỗi niềmNhựt một hương quan hà xứ thịYên ba giang thượng sử nhân sầuHoàng Hạc lâuQuê hương khuất bóng hoàng hônTrên sông khói sóng cho buồn lòng ai!Tản Đà dịch Huy Cận buồn nhiều hơn Thôi Hiệu, cái buồn của Huy Cận lại cụ thể hơn, buồn triền miên, nhớ triền miên, không cần duyên cớ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Nhưng nhà của nhân vật trữ tình ở chốn nào? Có phải đằng sau nỗi nhớ nhà của Huy Cận là nỗi nhớ quê hương, đất nước, là nỗi đau của cả thế hệ khi vừa lớn lên thì đất nước đã tràn ngập bóng đêm nô lệ? ở một góc nhìn khác, ta không so sánh nỗi buồn hơn ai mà là mỗi lời thơ có một vẻ buồn riêng, vẻ đẹp riêng và tâm trạng riêng. Hình ảnh cánh chim trong buổi chiều tàn gợi lên niềm mong cầu tha thiết về một tổ ấm, một mái nhà, một quê hương, một cuộc sống yên vui thanh bình.. Cánh chim bé nhỏ kia là nét bút cực tả sự tương phản giữa cái vô cùng bầu trời với cái bé nhỏ cánh nhỏ của cánh chim chao nghiêng chở nặng cả một buổi chiều về miền vô định. Ta thấy trong cánh chim bé nhỏ kia, dường như có bóng dáng của chủ thế trữ tình, hay nói khác đi, cánh chim ấy với nhà thơ có chút tri âm? Tràng giang là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận nói riêng và thơ ca lãng mạn 1932-1945 nói chung. Bài thơ là một bức tranh thiên nhiên buồn. Cảnh chiều trong bài thơ có chiều kích không gian cao rộng, sông nước mênh mang và tất cả đều hoang vắng, tiêu sơ, thiếu vắng sự sống. Con người trong bài thơ là con người mang nặng nồi bơ vơ, lạc lõng đến tội nghiệp. Bức tranh được khắc họa với bút pháp chấm phá tài tình và giọng thơ mang hơi hướng của Đường thi. Nhà thơ rất thành công trong cách chọn lựa ngôn ngữ, để diễn đạt cái vô định, bơ vơ của kiếp người. Ta có thể nhận ra rằng cả bài thơ đều thiếu vắng bóng người và thiếu cả âm thanh, thế nên nỗi buồn và cô đơn càng vang vọng bàng bạc khắp bài
Đề bài So sánh cái tôi trong bài thơ Vội vàng và bài thơ Tràng giang là một đề bài hay những không hề đơn giản đối với các em học sinh học chương trình đại trà. Vì vậy mà chuyên mục văn mẫu 11 tổng hợp kiến thức, tài liệu bổ trợ giúp các em học sinh có thể giải quyết đề bài này phù hợp với mức độ, nhu cầu của tính chất bài kiểm tra, bài em học sinh có thể dựa vào dàn ý dưới đây cùng với những nội dung phân tích bài thơ Tràng giang - Huy Cận và dàn ý phân tích bài Vội vàng - Xuân Diệu, để từ đó triển khai thành bài văn hoàn chỉnh cho đề bài So sánh cái tôi trong bài thơ Vội vàng và bài thơ Tràng giang. So sánh cái tôi trong Vội vàng và Tràng giangDàn ý so sánh cái tôi trong bài Vội vàng và Tràng giangDàn ý dưới đây được định hướng làm bài theo từng tác phẩm cụ thể sau đó tổng hợp lại và đưa ra những điểm giống - khác giữa hai cái tôi trong hai bài thơ cùng bài thơ Vội vàng - Xuân Diệu1. Tình yêu cuộc sống say mê, tha thiết của nhà thơ- 4 câu mở đầu Thể hiện cái tôi khát vọng muốn núi héo làm ngưng sự vận động của thời gian, vũ trụ để giữ mãi hương sắc của mùa xuân, tuổi muốn “Tắt nắng” “buộc gió”-> Điệp từ, câu ngắn trùng lặp cấu trúc=> Lấy cái tôi chủ quan để thay đổi quy luật tự nhiên. Quả là ý tưởng táo bạo, xuất phát từ một trái tim yêu cuộc sống đến tha thiết say Nhà thơ vui sướng, ngây ngất trước hương sắc của cuộc đời đầy quyến rũ, sự phong phú và giàu có của thiên nhiên, cuộc sống, tuổi trẻ.+ Cảnh vật hiện lên dưới con mắt của nhà thơ thật phong phú, rực rỡ, tươi đẹp và đầy nhựa sống. Tuần tháng mật Hoa đồng nội Này đây Lá cành tơ yến anh, khúc tình si ánh sáng Thần vui hằng gõ cửa-> Điệp từ, nhân hoá+ Cảm giác hạnh phúc được nhà thơ thể hiện qua câu thơ táo bạo, so sánh độc đáo “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”=> Xuân Diệu đã vật chất hoá thời gian, câu thơ không chỉ gợi hình thể mà còn gợi cả hương thơm vị ngọt khiến người ta đắm say, ngất Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời- Niềm vui sướng như khựng lại khi Xuân Diệu nhận ra giới hạn của thời gian “Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa”- Nhà thơ cảm thấy buồn bã, lo sợ, tiếc nuối khi ý thức được sự trôi chảy xủa thời gian"Xuân đương tới nghĩa là xuân đương quaXuân còn non nghĩa là xuân sẽ giàVà xuân hết nghĩa là tôi cũng mấtLòng tôi rộng nhưng lượng đời cứ chật...Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoànNếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại"=> Với điệp từ “xuân” kết hợp với những cặp từ đối lập tạo thành một nỗi day dứt một niềm tiếc nuối khôn Xuân Diệu biết mùa xuân rồi sẽ tàn phai, tuổi trẻ rồi cũng trôi qua, cho nên trong cái tươi đẹp mơn mởn của nó tác giả đã nhìn thấy sự tàn úa.+ Điệp từ “nghĩa là” vừa như muốn giải thích nhưng ẩn sau đó là một nỗi lo lắng, hốt hoảng trước sự trôi chảy của thời gian.+ Đối lập làm tăng sự lo lắng khi nhận thấy cái hữu hạn của đời người và cái vô hạn của thời gian.+ Cảnh vật như lao nhanh tới sự tàn phá, héo úa và chia phôi. Tâm trạng của nhà thơ có phần nào đó rơi vào sự tuyệt vọng.“Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”3. Khát vọng sống, khát vọng yêu đương cuồng nhiệt hối hả- Đang chìm đắm trong đau buồn, tuyệt vọng nhà thơ chợt nhận ra thời gian của tuổi xuân vẫn còn nên lên tiếng giục giã “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”- Tác giả vội vàng, gấp gáp muốn tận hưởng tất cả cuộc sống, tình yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc.+ Ta muốn ôm, riết, say, thâu, cắn vào non nước, cỏ cây, gió mây, sự sống, xuân hồng+ Với nhịp thơ dồn dập, ngắt nhịp linh hoạt, câu mệnh lệnh trực tiếp biểu cảm khát vọng sôi nổi của trái tim nhà thơ.+ Hình ảnh phong phú tượng trưng cho thanh sắc của thời gian sự sống mơn mởn, mây đưa gió lượn, cánh bướm tình yêu, mùi thơm ánh sáng…+ Tình yêu nồng nàn, khoẻ khoắn cao độ được biểu hiện bằng nhiều động từ liên tiếp ôm, riết, say, thâu. Nhiều tính từ chuếnh choáng, no nê, đã đầy…+ Nhà thơ cảm nhận niềm hạnh phúc bằng tất cả các giác quan, trạng thái say mê, ngây ngất.+ Từ ngữ, hình ảnh táo bạo ở câu cuối cho thấy Xuân Diệu rất say mê cuộc sống, khát khao và muốn tận hưởng tình yêu, hạnh phúc ngay trên chính cuộc đời Bài thơ thể hiện tư tưởng nhân sinh quan tích cực của tác giả, lòng yêu cuộc sống, yêu đời, yêu tuổi trẻ một cách mãnh liệt, cuồng Bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu Cảm nhận thiên nhiên tinh tế, sử dụng điệp ngữ so sánh độc đáo, hình ảnh thơ khoẻ khoắn, nồng nàng, từ ngữ gợi cảm, táo bài thơ Tràng giang - Huy Cận1. Nhan đề và lời đề từ- Nhan đề+ Ban đầu có tên “Chiều bên sông” gắn với bút pháp tả thực, sau đổi thành “Tràng giang”.+ Tràng giang âm hưởng từ Hán - Việt gợi không khí cổ kính và đầy tính khái quát không chỉ gợi sự mênh mông bát ngát của không gian mà còn gợi nỗi buồn mênh mang rợn Lời đề từ Thâu tóm khá chính xác và tinh tế cả tình bâng khuâng, thương nhớ và cảnh trời rộng, sông dài của bài Bức tranh thiên nhiên- Không gian mênh mang, bao la, rộng lớn “Trời rộng sông dài”.- Cảnh vật hiu quạnh, hoang vắng, đơn lẻ, hiu hắt buồn+ Hình ảnh mang đậm màu sắc cổ điển sóng, con thuyền, cồn nhỏ đìu hiu, bến cô liêu… Mây đùn núi bạc, cánh chim nghiêng -> Đây là những thi liệu quen thuộc trong thơ Đường, Tống, gợi lên một sự vắng vẽ, lặng lẽ, buồn.+ Thế nhưng bức tranh "Tràng giang" vẫn gần gũi, thân thuộc với mọi tấm lòng Việt Nam bởi “cành củi khô”, “tiếng làng xa vãn chợ chiều” -> Đó là những âm thanh, hình ảnh của cuộc sống con người của miền quê Việt Sự đối lập giữa bao la mênh mông của trời nước với vạn vật nhỏ nhoi tạo nên cảm giác lạc lõng, con người cảm thấy cô đơn, bơ vơ. Bao trùm bài thơ là một giọng điệu buồn, dường như nỗi buồn đã thấm sâu vào cảnh Tâm trạng nhân vật trữ tình nỗi lòng của nhà thơ- Nhà thơ cảm thấy cô đơn nhỏ bé trước mênh mông sông nước đất trời, không một niềm hi vọng của sự gần gũi, thân mật “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”, “Bến cô liêu”; “không cầu”; “không chuyến đò” - Những hình ảnh ấy gợi lên sự cô đơn lẻ loi của con người trước vũ trụ bao Nhìn cảnh vật trôi trên dòng sông nhà thơ cảm thấy thấm thía sâu sắc hơn sự trôi nổi của kiếp người.“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng“Bèo giạt về đâu hàng nối hàng”Nỗi buồn của thi nhân chính là nỗi buồn mang tính thời Thời đại thơ mới - thời đại con người mất nước, mất tự do, cuộc sống chỉ là hư ảo, mộng mị, sống không có lí tưởng, không tương lai hạnh phúc. Đây có thể coi là “nỗi buồn đẹp” “Tràng giang đã dọn đường cho lòng yêu giang san đất nước” Xuân Diệu.4. Những đặc sắc nghệ thuật- Cảnh vật vừa mang nét cổ kính thường gặp trong thơ Đường, vừa gần gũi thân thuộc đối với con người Việt Nam.+ Những hình ảnh mang nét đẹp cổ kính+ Nhan đề 2 âm Hán - Việt.+ Câu thơ “Trên sông khói sóng cho buồn…" gợi nhớ câu thơ Thôi Hiệu “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.- Phương thức biểu đạt của thơ Đường Vô hạn thiên nhiên đối lập với hữu hạn của con người, cái nhất thời đối lập với cái vĩnh hằng.+ Thế giới bài thơ là thế giới thân thuộc của đồng quê, của non sông đất nước Việt Chủ đề bài thơBài thơ thể hiện nỗi bâng khuâng trước cảnh trời rộng sông dài của người lữ khách và bài thơ cũng là nỗi buồn thời đại, bộc lộ tình yêu quê hương đất nước của Huy tóm lại là Rõ ràng ai cũng nhận thấy rằng bài thơ Vội vàng có nội dung chủ đạo là lời thúc giục sống nhanh, sống để tận hưởng hết những thi vị của cuộc đời vì đó là tấm lòng yêu cuộc sống, yêu đời tha thiết của tác giả. Trong từng câu thơ của ông, ta bắt gặp được sự chuyển dời, sự trôi qua của thời gian... dễ dàng là qua từng ngữ chỉ thời điểm ví dụ như tháng giêng, tháng năm, mùa xuân... và hơn nữa là ở hình ảnh thơ... "Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?"...Từ đó, tác giả đã đưa ra quan niệm sống rất tích cực. Phân tích ở những đoạn nói về thời gian rõ nét ví dụ nhưXuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,...Tóm lại bạn hãy tìm những câu thơ có sự chuyển dời về thời gian để làm dẫn chứng cho bài luận, cả mạch thơ và đoạn thơ có một sự thống nhất sau đó đưa ra quan niệm sống đúng đắn mà tác giả muốn gửi gắm...Còn về bài thơ Tràng giang có lẽ ta thấy ngay quan điểm "Huy Cận là nhà thơ của không gian" là rất đúng đắn. Bởi vì ngay ở tiêu đề của tác phẩm, "Tràng giang" đã gợi ra một không gian mênh mông rộng lớn. "Tràng" là đọc chệch từ "trường" nhưng tại sao tác giả lại dùng từ "tràng" bởi vì dùng âm vần "ang" sẽ tạo được cảm giác ngân dài, mênh mang, vang vọng, không gian lại càng mở ra rộng lớn hơn... Còn ở các câu thơ thì tác giả đưa ra những hình ảnh, những điểm nhìn không gian từ bao quát đến chi tiết... từ lớn đến nhỏ, hình ảnh vạn vật mở ra theo nhiều chiều, trên dưới, dọc, ngang. Nhờ đó mà người đọc, người nghe càng thấy không gian thêm rộng những phân tích riêng lẻ của hai tác phẩm trên, các em học sinh có thể so sánh cái tôi trong Vội vàng và Tràng giang có những điểm giống nhau nhưng lại vẫn rất khác biệt, vẫn rất riêng Cảm nhận thiên nhiên, tình yêu quê hương, tình yêu tuổi trẻ, tính thời cuộc của mỗi tâm tư...Không chỉ so sánh cái tôi trong Vội vàng và Tràng giang, nhiều đề bài còn liên hệ cả 3 tác phẩm Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn vĩ dạ bởi 3 tác phẩm đại diện cho 3 phong cách khác nhau trong cùng một thời kì đất nước còn đang lầm than, vất so sánh cái tôi trong Vội vàng và Tràng giang yêu cầu các em học sinh cần am hiểu về cả hai tác giả và tác phẩm từ đó mới có thể đứng ở vị trí của một đọc giả, một người đi sau so sánh và trân trọng từng cái tôi chung mà riêng của từng tác giả. Chúc các em làm bài tốt và luôn học tốt môn văn lớp 11.
A. Khổ 1 – Câu thơ đầu tiên khổ thơ thứ nhất đã mở ra hình ảnh sông nước vừa rộng vừa dài vừa mênh mông → Từ “điệp điệp” gợi lên hình ảnh những con sóng cứ nối đuôi nhau vỗ vào bờ không ngừng nghỉ, không dứt, càng tô đậm thêm không gian rộng lớn, bao la – Hình ảnh con thuyền xuôi mái nước gợi lên sự nhỏ nhoi trong không gian mênh mông → Hình ảnh đối lập giữa không gian sông nước mênh mông với hình ảnh con thuyền nhỏ bé càng gợi lên trong chúng ta sự cô đơn, le loi, nhỏ bé Hai câu cuối – Thuyền và nước như có một nỗi buồn chia lìa đang đón đợi từ trước, cho lòng “sầu trăm ngả”. Đặc biệt, giữa không gian mênh mông cô quạnh càng khiến nỗi buồn dâng lên cao hơn – Hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng” gợi lên trong lòng người đọc tâm trí luôn thấy khôn nguôi về cõi nhân sinh, lạc lõng, bơ vơ, không biết rồi sẽ trôi dạt về chốn nào → Trong khổ thơ thứ nhất, nếu dòng tràng giang là dòng đời vô tận thì hình ảnh con thuyền, cành củi khô chính là hình ảnh đại diện cho kiếp người nhỏ nhoi, vô định, lạc lỏng không chốn nương tựa, gợi lên nỗi buồn không nguôi, không dứt của tác giả. B. Khổ 2 Hai câu thơ đầu phác họa nên một không gian hoang vắng, hiu quạnh – Nghệ thuật đảo ngữ cùng từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” đặc biệt gợi cảm gợi lên sự thưa thớt, hoang vu, lạnh lẽo – Câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” có theo nhiều cách hiểu nhưng dẫu hiểu như thế nào thì câu thơ ấy vẫn gợi lên trong lòng người đọc nỗi buồn, sự hoang vắng, tàn tạ, thiếu vắng đi sự sống của con người nơi hoang vu này – Hai câu sau, không gian càng thêm được mở rộng cả về bốn phía khiến cho khung cảnh đã hiu quạnh lại càng thêm cô liêu và tĩnh mịch, gợi lên cả nỗi buồn, sự cô đơn ai cũng xót xa nhất là thương thay tác giả C. Khổ 3 – Hình ảnh “bèo dạt về đâu hàng nối hàng” nhuốm hình ảnh về kiếp người, cõi nhân sinh trôi nổi lênh đênh, không biết mai này ra sao – Nghệ thuật phủ định được lặp lại “không một chuyến đò ngang”, “không cầu” → Nơi đây không có bất cứ thứ gì gắn kết đôi bờ với nhau, nó thiếu đi dấu vết của sự sống, thiếu đi tình yêu thương lòng người, sức sống và hơn cả là giao hòa gắn kết người với người D. Khổ 4 – Hai câu thơ đầu khổ thơ một bức tranh thiên nhiên chiều tà với vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ, áng chiều thơ mộng được hiện ra – Hình ảnh những đám mây trắng cứ hết lớp này đến lớp khác nối tiếp nhau “đùn” lên dưới ánh nắng chiều như tạo nên những quả núi dát bạc. Cũng lại là nối tiếp nhau nhưng hình ảnh lần này khác với con sóng, nó có sức sống, nó tạo nên vẻ đẹp tươi mới – Cánh chim xuất hiện như áng lên một tia ấm áp sự sống cho cảnh vật song nó vẫn không làm vơi đi nỗi buồn trong sâu thẳm tâm hồn của nhà thơ – Hai câu thơ cuối đã thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết, cháy bỏng của tác giả – Hình ảnh “dờn dợn vời con nước” không chỉ tả những đợt sóng lan xa ý vị người con ngày một xa nhà, hơn thế nữa nó còn gợi lên cảm giác buồn nhớ đến vô tận của nhà thơ – nỗi buồn của người xa xứ đang nhớ quê hương da diết. – Câu thơ cuối đậm chất cổ điển khép lại bài thơ đã diễn tả một cách chân thực và rõ nét niềm thương nhớ quê hương đất nước của nhà thơ Kết bài Khái quát nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của bài thơ. Cảm nhận về phong cách nhà thơ và những cảm nhận của bản thân khi đặt mình vào đó. 2. Phân tích Tràng Giang của Huy Cận ngắn gọn nhất Trong phong trào thơ mới có rất nhiều nhà thơ nổi tiếng về tình yêu quê hương, đất nước, gia đình, nỗi nhớ quê, trong đó phải kể đến nhất là Huy Cận- một hồn thơ “sầu vạn cổ”. Mỗi vần thơ của ông chưa đựng biết bao nỗi sầu buồn man mác trước xã hội ông đang ngắm nhìn, sâu hơn hết là tiếng lòng nhớ quê, nỗi lòng yêu nước da diết. Tràng giang là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận. Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” mở đầu, với bảy chữ thôi nhưng đã bao quát toàn bộ nội dung và tư tưởng nghệ thuật mà tác giả gửi gắm. Gợi ra một nỗi buồn man mác, cô độc giữa dòng đời mênh mông. Từ láy “bâng khuâng” càng gợi tâm trạng vương sầu và nỗi nhớ miên man nơi đáy lòng thi sĩ, gợi mở cho diễn biến phía sau càng giãi bày tự nhiên “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng.” Nhan đề tác phẩm “tràng giang”, cách điệp vần “ang” được sử dụng đầy tinh tế đã gợi ra một không gian với dòng sông dài rộng. Hai tiếng “tràng giang” cất lên càng gợi âm vang của nỗi buồn lòng người. Nỗi buồn của dòng sông cũng chính là nỗi buồn sâu thẳm của nhân vật trữ tình, cụm tính từ “buồn điệp điệp” càng làm cho nỗi buồn thêm nặng, lớp lớp bi sầu trong lòng thi sĩ. Tưởng chừng như nhẹ nhàng nhưng lại trĩu nặng vô bờ, thấm đẫm và lan tỏa trong từng thức cảnh. Nổi bật trong không gian dài rộng, mênh mông là hình ảnh “con thuyền xuôi mái”, giữa dòng sông mênh mông ấy nhưng chỉ mỗi con thuyền lênh đênh hiu quạnh, cô đơn đến lạnh người cũng như lòng Huy Cận bấy giờ. “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng.” Hình ảnh đối lập “thuyền về- nước lại” vận dụng tinh tế kết hợp cùng thi liệu đầy mới mẻ “củi một cành khô lạc mấy dòng” làm cho câu thơ thêm phần uyển chuyển còn không kém phần cổ kính. Nghệ thuật đảo ngữ “củi một cành khô ” được đưa lên đầu câu càng nhấn mạnh sự đơn độc, lẻ loi, vô định, nhỏ bé, tầm thường. Phải chăng cành củi khô ấy đang đại diện cho chính thi sĩ ở giữa dòng đời. Tưởng chừng như nỗi buồn đã dừng lại, nhường chỗ cho chút niềm vui nho nhỏ. Nhưng sang khổ thơ thứ hai, nỗi sầu lại càng lớn thêm nhiều chút, đến cảnh vật còn man mác buồn “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa, vãn chợ chiều Cặp từ láy tượng hình “lơ thơ” “đìu hiu” gợi bao buồn vắng, quạnh quẽ, cô đơn. Như tự nhiên vốn có, không gian chợ búa gợi sự đông vui, tấp nập, thế nhưng trong cảnh tác giả miêu tả không có lấy chút tiếng cười đùa, tiếng rao hàng vang khắp tất cả yên lặng đến cô độc lạ thường. Vạn vật như tĩnh lặng chính trong bầu không khí đó càng làm cho không gian thêm mở rộng mênh mông “Nắng xuống trời lên, sâu chót vót Sông dài trời rộng, bến cô liêu” Nghệ thuật đối kết hợp với biện pháp tu từ nhân hoá càng làm không gian thêm rộng mở. “Sâu chót vót” gợi sự thăm thẳm, hun hút khôn cùng. Không gian càng rộng, càng cao, càng sâu bao nhiêu thì cảnh vật lại càng buồn vắng, lẻ loi bấy nhiêu. Sông tuy dài mà bến bờ cô lẻ, nỗi buồn như lan tỏa sâu trong từng hơi thở. Theo mạch cảm xúc của hai khổ thơ trước, khổ thơ thứ ba càng khắc sâu thêm nỗi buồn tuyệt đối “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cần gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.” Những cánh bèo trôi dạt liên tiếp “hàng nối hàng” không nơi bấu víu, chẳng chốn trở về hay chính là đang ẩn dụ kiếp người nhỏ bé không nới nương tựa đang bơ vơ. Bầu trời bao la bát ngát, sông nước mênh mông không có lấy nổi con đò hay cái cầu bắc ngang như chặt đứt sự kết nối giữa người với người. Mọi thứ dường như đang đối lập cố chống đối với con người, kẻ cô đơn cần sẻ chia lại không có lấy chút tình người nào cùng san sẻ. Khổ thơ cuối bài thơ vẽ nên một bức tranh đầy tráng lệ của thiên nhiên và nỗi buồn sâu lắng của lòng người “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”. Bầu trời với những đám mây cao trắng được phản chiếu dưới ánh nắng mà trở nên đẹp đẽ với ánh bạc lấp lánh. Động từ “đùn” cho thấy được sự vận động đầy mạnh mẽ của cảnh vật, những đám mây đùn lên tạo thành những dãy núi hùng vĩ, tráng lệ. Giữa không trung là cánh chim bé nhỏ đang đơn độc nghiêng mình dưới bóng chiều buồn vương. Hình ảnh đối lập giữa cánh chim nhỏ bé với vũ trụ rộng lớn càng khiến lòng người hiu quanh cô đơn. Trước cảnh thiên nhiên ấy, nỗi nhớ quê hương trong lòng thi nhân lại thêm da diết, cồn cào “Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” “Tràng giang”- nỗi nhớ quê hương của Huy Cận dường như thường trực, dai dẳng và mãnh liệt. Không vì bất cứ điều gì mà nỗi nhớ vẫn “dợn dợn” trong lòng thi nhân, là biểu hiện của tình yêu quê hương nói riêng và tinh thần yêu nước nói chung. Bằng sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, bài thơ đậm chất Đường thi nhưng vẫn rất Việt Nam với những hình ảnh đầy gần gũi như con thuyền xuôi mái, bèo dạt mây trôi, cành củi khô lạc dòng,..Qua bài thơ, ta thấy được một nỗi buồn vô tận của cái tôi lạc lõng trong cuộc đời. Huy Cận đã thổi hồn của riêng mình gửi gắm vào bài thơ cũng như nói lên nỗi lòng nhớ quê hương, yêu đất nước của bao người. 3. Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận hay nhất Khi nghĩ tới Huy Cận, người ta nhớ ngay đến một “hồn thơ ảo não”. Trước cách mạng tháng Tám 1945, ông góp mặt vào thơ ca đương thời một cái tôi cô đơn, buồn bã trước dòng đời. Giữa sự pha trộn chất cổ điển và hiện đại, gửi gắm nỗi niềm ấy trong nhiều bài thơ, nhất là phải kể đến Tràng giang- tác phẩm tiêu biểu đại diện của ông. Bài thơ in trong tập “Lửa thiêng” 1940. Chiều thu năm 1939, một chàng sinh viên trường Cao đẳng Canh nông, đạp xe dọc theo bờ đê sông Hồng, đến tới bãi Chèm – phía Nam dòng sông, trước cảnh sóng nước mênh mông, đã không kìm nén nổi cảm xúc buồn bã, cô đơn và nhớ nhà da diết nên đã cho ra bài thơ Tràng giang. “Tràng giang” là được sử dụng theo ngôn ngữ Hán Việt đầy trang trọng, cổ kính. Lựa chọn tựa đề cũng mang ý nghĩa mà ông muốn truyền tải. Là nỗi buồn trước không gian mênh mông, rộng lớn bao trùm cả vũ trụ. Và quả thực trước một tràng giang như thế, ông đã không giấu nổi nỗi buồn mà để lan tỏa khắp mọi không gian, bao trùm cả vũ trụ. Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Khổ đầu mở ra khung cảnh tràng giang mênh mông, đối lập hoàn toàn với tất cả những thứ nhỏ bé. Và điểm nhấn rõ nét nhất của khổ thơ chính là hình ảnh củi một cành khô. Đã không còn sự sống lại còn trôi dạt vô định trên dòng sông lạnh lẽo đang ẩn dụ cho chính lòng thi nhân. Mà hơn nữa nó còn lạc mấy dòng thì không chỉ là nỗi buồn, nó hiện hữu cả nỗi cô đơn. Phải chăng là đang tái hiện lại thân cô hiu quạnh của tác giả. Khổ thứ hai, điểm nhìn đã xa hơn, và khung cảnh trên sông cũng được hướng vào chiếc cồn nhỏ hay vào bầu trời đẹp và khắp cả dòng sông. Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xe vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu Không gian cũng không có mấy thay đổi, thậm chí hai từ láy lơ thơ, đìu hiu lại càng khắc họa sự vắng lặng, yên ắng, quạnh hiu. Đâu đó có âm thanh của sự sống? Dẫu có đi chăng nữa thì tiếng làng xa vãn chợ chiều cũng chẳng làm cho nơi đây nhộn nhịp hơn, thậm chí càng tô đậm thêm sự tĩnh lặng. Cách sáng tạo từ sâu chót vót đã giúp tác giả miêu tả được khoảng cách giữa trời với sông vừa có độ cao vừa có độ sâu, khuếch tán rộng hết mức ở toàn vũ trụ. Nỗi buồn trơ trọi đạ rọng khắp không gian và nỗi cô đơn ngày càng lớn. Thi nhân đã không còn đối diện với dòng sông mà hoàn toàn bị choáng ngợp, quá nhỏ bé trước không gian vũ trụ như thế. Rồi ánh mắt thi nhân lại tiếp tục kiếm tìm. Hình như nhân vật trữ tình “lục lọi” đâu đây một chút sự sống của con người. Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng Lần này hiện lên là hình ảnh hàng bèo quen thuộc. Không biết bao nhiêu hàng bèo cứ thể nối tiếp trôi dạt về đâu? Có nỗi buồn, sự bơ vơ, lạc lõng không phải của một cành củi khô nữa mà là của cả một thế hệ con người chẳng biết sẽ đi đâu về đâu? Hình ảnh đơn giản nhưng gói ghém được tâm sự của cả bao nhiêu thân phận con người lúc bây giờ. Chỉ còn thiên nhiên tiếp xúc với thiên nhiên. Nỗi cô đơn, sự buồn bã của con người chưa có dấu hiệu vơi cạn, thu hẹp lại theo bất cứ một chiều nào. Cả ba khổ thơ là một bức tranh thiên nhiên thấm đẫm những phong vị cổ điển xen lẫn chút hiện đại khắc họa một không gian vô cùng, vô tận. Bao nhiêu hi vọng dồn vào khổ cuối, để cái tôi vơi bớt đi phần nào những chất chứa ưu tư. Vậy mà Lớp lớp mây cao, đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà Khung cảnh thiên nhiên có sự thay đổi, lần này không còn là dòng sông mênh mông, vắng lặng mà thay vào đó là sự tráng lệ, hùng vĩ nổi bật trên nền trời chiều. Vẫn sử dụng những thi liệu cổ quen thuộc là mây, chim, nhà thơ vẽ lên nền trời ấy nhưng là những đường nét, màu sắc thật sinh động. Đó là lớp lớp những áng mây ánh bạc đang đùn trên bầu trời như những ngọn núi. Đặc biệt là cánh chim chao nghiêng được coi là một khoảnh khắc mà thâu tóm được sự chuyển động của hai sự vật. Thêm một lần nữa lòng người không thể nào xua tan được sự bủa vây của ngoại cảnh. Thế mà quê hương lại chẳng còn, đó là nỗi niềm chung của cả một thế hệ các nhà thơ mới trước tình cảnh đất nước lúc bấy giờ. Chẳng cần vịn vào đâu, tự khắc nỗi nhớ ấy đong đầy, tự thân nó đã bộc lộ một tình yêu thắm thiết, trĩu nặng với quê hương. Bút pháp đặc trưng và nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển và hiện đại đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên thật đẹp dẫu có buồn đây chính là điểm đặc biệt của Huy Cận khiến mọi người tán thưởng. Một “Tràng Giang” hiện lên đầy tình yêu quê hương đất nước.
chủ đề bài thơ tràng giang